2)sự hình thành của bầu khí quyển
Bầu khí quyển của chúng ta bắt nguồn từ không gian vũ trụ
Khí quyển của trái đất có thể được tạo ra bởi các sao chổi
từ không gian vũ trụ, không phải do các núi lửa phun khí từ sâu trong lòng đất
theo các giả thuyết trước đây.
Các sao chổi có thể đã tạo ra khí quyển của trái đất
Nguồn gốc của các khí trong khí quyển của trái đất từ lâu đã
là một câu hỏi khó. Một trong những giả thuyết chính đó là: Các khí thoát ra
khỏi lớp phủ địa chất (Quyển Manti) thông qua các núi lửa tạo thành khí quyển.
Giáo sư Greg Holland thuộc trường đại học tại Manchester , Anh Quốc và các đồng nghiệp đã đi đến một giả
thuyết hoàn toàn khác sau khi thu thập các mẫu khí hiếm Kripton từ độ sâu vài
trăm mét bên dưới New Mexico
(một tiểu bang thuộc vùng tây nam Hoa Kỳ).
Họ đã phát hiện ra rằng “vân tay hóa học” của lớp vỏ địa
chất rất giàu các đồng vị nặng của Kripton như krypton-86 và krypton-84, và
khan hiếm những đồng vị nhẹ như krypton-82. Đây là một kết cấu gần giống với
thiên thạch, kết cấu này đã chứng minh các quan điểm rằng các thiên thạch giàu
khí đã va chạm mạnh với nhau trong hệ mặt trời ban đầu hình thành nên hành tinh
của chúng ta.
Giáo sư Scott Kenyon ở trung tâm Harvard-Smithsonian đại
diện cho Ngành Vật lý học thiên thể tại Cambridge, Massachusetts cho biết: “Các
kết quả đã xác nhận một trong những ý tưởng cơ bản của thuyết hình thành trái
đất đó là: phần lớn trái đất được hình thành bởi sự va chạm của các vật thể nhỏ
như các thiên thạch đá chứa chondrite cacbon”.
Khí quyển nhẹ
Nhưng khí quyển bắt nguồn từ đâu, Giáo sư Holland tiên đoán rằng khí quyển rất giàu các
đồng vị nhẹ hơn vì thế lớp vỏ địa chất không thể là nguồn gốc của khí quyển. Kể
từ khi bầu khí quyển của trái đất được hình thành, các đồng vị nhẹ hơn trong
khí quyển không thể đạt đến một tỷ lệ cao hơn. Bởi vì các đồng vị nhẹ thoát vào
trong không gian nhanh hơn các đồng vị nặng nên khí quyển chỉ có thể “nặng
hơn”.
Nếu khí quyển không bắt nguồn từ lớp vỏ địa chất thì đâu là
nguồn gốc của nó?
Giáo sư Chris Ballentine, đồng tác giả và cũng là đồng
nghiệp của Holland
đưa ra giả thuyết rằng sao chổi có thể là câu trả lời. Tại rìa ngoài của hệ mặt
trời, trong vành đai Kuiper (một tập hợp các thiên thể có hình dạng giống các
tiểu hành tinh), là hàng triệu các vật thể đóng băng (sao chổi) được hình thành
khi hệ mặt trời sinh ra. Những sao chổi này có các dấu hiệu của khí hiếm giống
như các khí có ở khí quyển hiện nay của chúng ta. Như vậy, khí quyển của trái
đất có thể bắt nguồn từ sự vỡ tung muộn của các vật chất giàu khí và nước, giống
như sao chổi.
Sự dịch chuyển trong quỹ đạo của sao Mộc khoảng 4.5 tỉ năm
về trước có thể đã làm chấn động vành đai Kuiper, đẩy tung các sao chổi băng
vào trái đất.
Giáo sư Chris Ballentine cho biết thêm: “Các núi lửa khổng
lồ phun khí nằm rải rác trên bề mặt trái đất trong buổi sơ khai nhưng nghiên
cứu của chúng tôi cho thấy rằng nguồn gốc thực sự của khí quyển đúng là từ
không gian vũ trụ”.
“Nhiều người đã nhìn thấy những bản vẽ của các họa sĩ về
trái đất sơ khai với các núi lửa khổng lồ đang phun khí để tạo thành khí quyển.
Giờ đây, chúng ta phải vẽ lại bức tranh này”.
(Theo Sciencedaily)
3)sự hình thành sự sống
Trong thực tế không có một thuyết chuẩn nào về nguồn gốc sự
sống. Tuy nhiên, những thuyết được người ta chấp nhận nhiều nhất đều được xây
dựng trên một số những phát hiện về cấu trúcphân tử và tế bào
Nguồn gốc của các tế bào, trong khi chưa được rõ ràng, có
thể gây ra tranh cãi về mức độ quan trọng và thứ tự của bước 2 và 3. Những hợp
chất vô cơ và hữu cơ cơ bản nhất tạo nên sự sống là methane (CH4), ammonia
(NH3), nước (H2O), hydro sulfua (H2S), carbon dioxit (CO2) và phosphate
(PO43-). Cho đến năm 2006, chưa có một ai đã điều chế nhân tạo được một tế bào
nguyên mẫu từ những chất cơ bản. Nhà sinh vật học John Desmond Bernal, đã đưa
ra ba quá trình mà qua đó sự sống hình thành:
Bước 1: Sự hình thành các monomers
Bước 2: Sự hình thành các polymers
Bước 3: Sự tiến hóa từ các cấp độ phân tử lên đến tế bào
Bernal còn cho rằng: sự chọn lọc tự nhiên như Darwin có thể bắt đầu từ
rất sớm, có khi từ giữa giai đoạn 1 và 2.
[sửa]Nguồn gốc của các chất hữu cơ: Miller, Eigen và
Wächtershäuser
Thí nghiệm Miller (do Harold Urey và học trò của mình là
Stanley Miller) thực hiện vào năm 1953 nhằm tái tạo lại những điều kiện được
cho rằng có từ lúc Trái Đất xuất hiện. Thí nghiệm sử dụng một hỗn hợp các chất
khí như: methane, ammonia và hidro. Tuy nhiên, tỉ lệ của các chất khí trong khí
quyển Trái Đất cổ đại vẫn là một điều gây tranh cãi. Đã có thời người ta nghĩ
rằng một lượng ôxy đáng kể trong bầu khí quyển, nhưng chính ôxy lại ngăn cản sự
hinh thành các hợp chất hữu cơ.
Thí nghiệm cho thấy với những mắt xích hữu cơ đơn giản như
amino acid có thể trùng hợp tạo thành một khối vật chất sống. Những chất hữu cơ
cơ bản dĩ nhiên là khác xa so với những tế bào có thể tự sinh sản được. Tuy
nhiên, trong một môi trường mà chưa có sự sống nào hình thành trước thì các
chất hữu cơ này sẽ được tích trữ lại và đến một lúc nào đó sẽ có một sự tiến
hóa hóa học. Hơn nữa, sự hình thành các polymer phức tạp từ các monomer dưới
những điều kiện như thế không phải là một quá trình dễ dàng. Bên cạnh những
monomer cần thiết, những hỗn hợp có tác dụng ngăn cản sự hình thành các
polymer. Hơn nữa, theo như Brooks và Shaw trong cuốn Origins and Development of
Living Systems (Nguồn gốc và sự phát triên của các hệ thống sống), không có một
dáu hiệu địa lí nào cho thấy tồn tại sự tích tụ các chất hữu cơ như trên:
"Nếu có sự tích tụ nào của các chất hữu cơ, chúng ta
nên hi vọng sẽ tìm được một nơi nào đó trên Trái Đất mà trầm tich chứa đầy
nhưng hợp chất hữu cơ chứa nitơ, acid, chất khử, khoáng lưu huỳnh hay những thứ
gì đó tương tự như thế; hay trong những trầm tích đã biến đổi, chúng ta ít nhất
cũng phải tìm được những hợp chất nitơ. Thực tế là những chất như thế vẫn còn
chưa được tìm thấy trên Trái Đất.
Một số nguồn khác tạo thành các hợp chất hữu cơ phức tạp đã
được công nhận: ví dụ như những yếu tố từ ngoài Trái Đất như các thiên thạch.
Ví dụ như trong phân tích quang phổ, các hợp chất hữu cơ đã được tìm thấy trong
các thiên thạch và cả sao chổi. Vào 2004, một số hợp chất hữu cơ thơm mạch vòng
(PAH, viết tắt của polycyclic aromatic hydrocarbon) đã được tìm thấy khi quan
sát các tinh vân. Sự hiện diện của PAH chính là nguồn gốc của "thế giới
ARN" trong thuyết "thế giới PAH".
Có một số tranh cãi rằng vấn đề chủ yếu vẫn chưa được trả
lời bằng thuyết này là làm cách nào mà những phân tử hữu cơ đơn giản lại có thể
hình thành nên những hợp chất hữu cơ phức tạp, tương tác với nhau như thế nào
để tạo thành một tế bào. Ví dụ, trong một môi trường nước, sự thủy phân các
polymer tạo thành các monomer có ưu thế hơn sự ngưng tụ các monomer thành
polymer. Thí nghiệm Miller cũng đã tạo thành những chất chắc chắn phải phản ứng
với amino acid, từ đó, chấm dứt chuỗi peptide.
Vào đầu thập kỉ 1970, một vấn đề lớn được phát hiện về nguồn
gốc sự sống đã được phát hiện bởi một nhóm nhà khoa học tại Học viện Max
Planck. Họ tìm các xem xét những bước tạm thời trong phản ứng giữa những chất
trong "món súp nguyên thủy" và những bước tạm thời trong các bước
nhân đôi các mạch carbon vòng. Kết quả là, trong phân tử carbon mạch vòng, bộ
phận lưu trữ thông tin (có thể là ARN) đã tiết ra một chất enzyme, giúp cho sự
tạo nên một hệ thống thông tin mới, cứ liên tục như thế cho đến khi một hệ
thống thông tin cuối cùng hỗ trợ cho hệ thống đầu tiên. Hệ thống đó được gọi là
quasispecies, trải qua quá trình chọn lọc tự nhiên rồi trở thành một sinh vật.
Một trong những bằng chứng của thuyết carbon vòng là sự khám phá ra ARN, trong
một số trường hợp có thể chuyển hóa thành ribozymes, một dạng enzyme tạo thành
ARN.
Một câu trả lời cho sự biến hóa hóc búa này được đưa ra vào
thập kỉ 1980 bởi Günter Wächtershäuser, trong một học thuyết mang tên "thế
giới sắt – lưu huỳnh". Trong lý thuyết này, ông ta đã đưa ra một lý thuyết
mới về sự tiến hóa sinh hóa học chính là nguồn gốc của sự sống. Hơn nữa, ông ta
đã đưa ra một hệ thống rõ ràng về những chứng cứ sinh hóa từ những phản ứng
khác tạo ra chất hữu cơ từ những chất khí cơ bản. Trái với những thí nghiệm của
Miller, đòi hỏi rất nhiều những nguồn năng lượng khác như tia UV, sấm sét,...
hệ thống Wächtershäuser bao gồm nguồn năng lượng khác: sắt sulfide và một số
khoáng chất khác (ví dụ: khoáng pyrite). Năng lượng này được giải phóng từ
những quá trình ôxi hóa-khử những sulfide kim loại và là nguồn năng lượng chính
để tạo ra những phân tử hữu cơ cơ bản và cả polymer. Vì vậy, có thể cho rằng
một hệ thống như thế đã từng tồn tại và đã có một ảnh hưởng đến sự tự nhân đôi,
chuyển hóa một cách tích cực tạo thành nhựng thực thể, tiền thân của những sinh
vật ngày nay. Cuốn sách Peptides by activation of amino acids with CO on
(Ni,Fe)S surfaces: implications for the origin of life(Peptide bởi sự hoạt hóa
với carbon oxide trên bề mặt (Ni,Fe)S: sự liên quan đến nguồn gốc sự sống) của
ông xuất bản năm 1998 đã được đánh giá là thiếu tính khách quan do không đưa
vào những chất hữu cơ mà những nhà khoa học khác cho là sẽ phản ứng với nhau
hay bền. Sửa đổi mới nhất trong lý thuyết "thế giới sắt – lưu huỳnh"
đã được đưa ra bởi William Martin và Michael Russell vào năm 2002. Theo như
nghiên cứu của họ thì, phân tử đầu tiên của sự sống có thể đã được hình thành
trong những mạch khoáng dưới đáy biển. Đây là một nơi có rất nhiều những khoáng
chất có gốc sulfide được phun ra rồi đóng rắn lại tạo thành một hệ thống các
hang động ngầm rất nhỏ. Do đó, hệ thống này có thể giải quyết những yếu điểm
trong học thuyết Wächtershäuser.
1. Những hang
động nhỏ được tạo ra là một cách để tập trung các chất được tổng hợp thành, do
đó có nhiều khả năng tạo được các chất hữu cơ cấp cao.
2. Nhiệt độ
trong những mạch khoáng cao chênh lệch với nhiệt độ thấp bên ngoài cho phép tạo
nên một số nơi những vùng mà phản ứng thực hiện hiệu quả hơn những vùng khác
(monomer ở vùng nóng, polymer ở vùng lạnh).
3. Dòng hải lưu
qua vùng mạch khoáng khi đi ngang qua những hang động nhỏ cũng một phần làm
sạch những nguồn nguyên liệu đã hết và cung cấp thêm nguồn nguyên liệu mới.
4.Mô hình đó
cho phép một chuỗi bước tiến liên tiếp nhau nhằm tạo nên sự tiến hóa ở mức độ
tế bào (hóa học, monomer, oligomer, peptide, protein, ARN, ribonucleoprotein,
ADM) trong một cấu trúc nhỏ làm dễ dàng thay đổi giữa những bước phát triển.
5.Sự tạo thành
lipid có nghĩa là đã "đóng cửa" các tế bào khỏi những tác nhân bất
lợi, không cần thiết từ môi trường, cho đến khi tất cả những chức năng cơ bản
của tế bào được thiết lập.
Bước phát triển kế tiếp là sự tổng hợp các màng lipid cuối
cùng cho phép các cơ thể sống, cuối cùng cho phép các vật sống di chuyển dời
khỏi những hệ thống hang động nhỏ để bắt đầu cuộc sống của riêng mình.
Một trong những vấn đề còn chưa giải quyết được đó chính là
"tính hướng". Ví dụ: tất cả những monomer đều có quay về một phía
(amino acid quay về phía tay trái, nucleid acid quay về phía tay phải). Tính
hướng rất cần thiết cho cấu trúc các ribozyme (và ngay cả protein). Nguồn gốc
của tính hướng có lẽ chỉ đơn giản được giải thích bằng tính không đối xứng của
những phân tử đầu tiên theo ngẫu nhiên và tất cả những phân tử sau đều giống
như thế. Một số nghiên cứu năm 2003 của các nhà khoa học tại Đại học Perdue cho
thấy serine (một amino acid) có thể chính là nguồn gốc của tính không đối xứng
của các phân tử hữu cơ. Serine tạo thành một liên kết mạnh các phân tử amino
acid khác khiến chúng đều quay theo một hướng khiến 8 phân tử amino acid tiếp
theo sẽ cùng quay trái hay cùng quay phải. Tuy nhiên, làm cách nào mà lại có
nhiều phân tử serine quay trái như thế thì vẫn còn là một điều bí ẩn: làm cách
nào mà phân tử tạo bởi sinh vật hầu hết chỉ quay về một phía trong khi hầu hết
chúng là không đối xứng.
-Thông qua quá sự chọn lọc tự nhiên,sự tiến hóa và phát
triển lâu dài sự sống mới được đa dạng,phong phú như hiện nay.Mà đỉnh cao của
sự tiến hóa là con người.
Tóm lại:sự hình thành của vũ trụ và con người không có bàn
tay thần thánh hay chúa tể nào cả mà sự hình thành đó hoàn toàn do tự nhiên.
4)Xã hội loài người
-Con người biết cách suy nghĩ,biết cách làm chủ vận mệnh và
biết đoàn kết với hau.
-xã hội là một tập thể hay một nhóm những người được phân
biệt với các nhóm người khác bằng lợi ích,mối quan hệ đặc trưng,chia sẻ cùng
một thể chế và có cùng văn hóa.
-xã hội loài người là nơi có cái xấu và cái tốt,có công lý
và bất công.Xã hội đa dạng.
-Nhưng nhìn chung con người xã hội đều ưa chuộng công lý
theo cái thiện chống cái ác “nhân chi sơ tính bản thiện” con người lúc mới sinh
ra ai cũng tốt.nhưng vì hoàn cảnh cách giáo dục mới làm cho con người trở nên
xấu.
-Xã hội loài người không ngừng phát triển cùng với công
lý.Từ thời đại đồ đá đến thời hiện đại đó là 1 bước tiến dài về tri thức.Từ
thời nô lệ bị áp bức,nhân dân phải làm lụng để nộp tô thuế cho đến một xã hội
ngày càng bình đẳng và đời sống tương đối ấm no.Nhưng sự bất công vẫn chưa thể
chấm dứt nó còn trong nhiều tầng lớp xã hội.tạo ra do khoảng cách giàu
nghèo,quyền lực và đố kị.
(chiến binh chúa-sư tử)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét